Liên kết

C T T T T T T
1
 
2
 
3
 
4
 
5
 
6
 
7
 
8
 
9
 
10
 
11
 
12
 
13
 
14
 
15
 
16
 
17
 
18
 
19
 
20
 
21
 
22
 
23
 
24
 
25
 
26
 
27
 
28
 
29
 
30
 
31
 
 
 
 
 

Thông báo lỗi

Warning: chmod(): Permission denied trong _event_css_add() (dòng 272 của E:\ICD-SETUP\ICD-SETUP\ICD\sites\all\modules\event_calendar\event_calendar_colors\event_calendar_colors.module).

Gia nhập Công ước 98 của ILO thể hiện quyết tâm chính trị của Việt Nam về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động

Theo chương trình làm việc Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV, sáng 29/5, dưới sự điều hành Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường nghe trình bày báo cáo thẩm tra của Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội về việc gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế về Áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể. điều hành nội dung làm việc.

Trình bày báo cáo thẩm tra về việc gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Nguyễn Văn Giàu nêu rõ, qua thẩm tra, các ý kiến phát biểu tại phiên họp đều tán thành về sự cần thiết gia nhập Công ước số 98 và cho rằng việc gia nhập Công ước số 98 phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong hội nhập quốc tế về lao động, xã hội, khẳng định quyết tâm và nỗ lực của Việt Nam trong quá trình thực thi các cam kết liên quan đến lao động trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và thực hiện nghĩa vụ của Việt Nam với trách nhiệm là quốc gia thành viên ILO, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến tới ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).

Nhấn mạnh, việc gia nhập Công ước số 98 thể hiện quyết tâm chính trị, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Nguyễn Văn Giàu kiến nghị Quốc hội xem xét, quyết định gia nhập Công ước số 98.

Ủy ban Đối ngoại cũng đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành tiếp tục rà soát, nội luật hóa đảm bảo tính tương thích, phù hợp giữa các nội dung Công ước số 98 với dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi) và các văn bản pháp luật khác có liên quan.  Xây dựng đề án triển khai; có lộ trình, có sự phân công, phối hợp triển khai từng công việc cụ thể, cần quan tâm công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung Công ước số 98 đến các ngành, các cấp, doanh nghiệp, người dân nhất là các chủ thể chịu tác động trực tiếp như:hệ thống công đoàn Việt Nam, doanh nghiệp, các hiệp hội ngành nghề và người lao động. Xây dựng kế hoạch sớm gia nhập hai Công ước cơ bản còn lại của ILO: Công ước số 87 “về quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức” và Công ước số 105 “về xóa bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc”.

Đề nghị Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam nghiên cứu sớm trình sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn năm 2012 để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với các quy định mới được sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật Lao động năm 2012.Theo Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Nguyễn Văn Giàu, Công ước số 98 không có quy định trái với Hiến pháp năm 2013. Các ý kiến thẩm tra cho rằng các nguyên tắcvề quyền tổ chức và thương lượng tập thể được quy định trong Công ước số 98 về cơ bản phù hợp pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, liên quan đến bảo đảm nguyên tắc tự nguyện của thương lượng tập thể, Bộ luật Lao động năm 2012 có một số nội dung chưa phù hợp với Công ước số 98.

Cụ thể: nguyên tắc thương lượng tập thể được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện theo Điều 4 Công ước số 98 chưa được quy định trong Bộ luật Lao động năm 2012. Theo Điều 4 Công ước số 98, các bên có quyền tự nguyện, tự quyết định tiến hành thương lượng tập thể khi nào xuất phát từ nhu cầu các bên. Tuy nhiên, theo Điều 67 của Bộ luật Lao động năm 2012 quy định thương lượng tập thể được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất. Nghị định số 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/01/2015 quy định thương lượng tập thể được tiến hành ít nhất một năm một lần.

Việc trao quyền thương lượng tập thể đương nhiên cho Công đoàn cấp trên: Theo  Điều 4 Công ước số 98, người lao động được lựa chọn tổ chức đại diện cho mình trong thương lượng tập thể. Tuy nhiên theo Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2012 trao quyền đại diện đương nhiên cho Công đoàn cấp trên trong các doanh nghiệp chưa có Công đoàn cơ sở có quyền thay mặt người lao động ở đó để tiến hành thương lượng tập thể.

Về nội dung thương lượng tập thể, theo Điều 4 Công ước số 98, việc các bên quan hệ lao động tiến hành thương lượng về nội dung là do chính các bên quyết định trên cơ sở nhu cầu các bên chứ không phải do pháp luật quy định. Tuy nhiên, theo Điều 70 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về nội dung thương lượng tập thể mà các bên bắt buộc phải thương lượng.

Về cấp thương lượng tập thể: Theo Điều 4 Công ước số 98, các bên liên quan được toàn quyền lựa chọn cấp thương lượng, bao gồm cấp quốc gia, khu vực hoặc cấp ngành hoặc bất kỳ cấp nào mà họ mong muốn. Bộ luật Lao động năm 2012 không có những quy định hạn chế các cấp thương lượng tập thể, quy định quy tắc và thủ tục đối với thỏa ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp và cấp ngành nhưng chưa đề cập tới nội dung về chủ thể có quyền thương lượng tập thể và chủ thể đàm phán thương lượng tập thể về phía người lao động trong doanh nghiệp.

Về giải quyết tranh chấp tập thể vì lợi ích và thúc đẩy thương lượng tập thể: Theo Điều 4 Công ước số 98, việc giải quyết các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bằng thủ tục trọng tài phải trên cơ sở tự nguyện của chính các bên tranh chấp. Tuy nhiên, theo Điều 194 của Bộ luật Lao động năm 2012, thủ tục giải quyết tranh chấp tập thể về lợi ích bao gồm hòa giải và trọng tài bắt buộc và theo điểm b, khoản 2 Điều 204 Bộ luật Lao động năm 2012, khi việc hòa giải tranh chấp tập thể không thành thì bất kỳ bên tranh chấp nào cũng có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp.

Do vậy, cần đảm bảo đồng bộ về thời gian hiệu lực giữa Công ước số 98 và Bộ luật Lao động (sửa đổi) đang được Quốc hội xem xét tại kỳ họp này để tránh tạo khoảng trống và xung đột pháp lý khi thi hành Công ước. Một số đại biểu cho rằng khi tiến hành sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động  năm 2012 sẽ có một số quy định mới liên quan đến Luật Công đoàn năm 2012. Vì vậy cũng cần sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn năm 2012 để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.