Liên kết

C T T T T T T
 
 
 
 
 
 
1
 
2
 
3
 
4
 
5
 
6
 
7
 
8
 
9
 
10
 
11
 
12
 
13
 
14
 
15
 
16
 
17
 
18
 
19
 
20
 
21
 
22
 
23
 
24
 
25
 
26
 
27
 
28
 
29
 

all

Thông báo lỗi

Warning: chmod(): Permission denied trong _event_css_add() (dòng 272 của E:\ICD-SETUP\ICD-SETUP\ICD\sites\all\modules\event_calendar\event_calendar_colors\event_calendar_colors.module).

fulltext

fulltext

Các nhà kinh tế nói rằng để biết mức sống của một khu dân cư chỉ cần ra chợ. Nếu chợ sầm uất, hàng hóa đề huề thì cư dân ở đó có mức sống sung túc. Nếu chợ tiêu điều, mua bán cầm chừng thì cuộc sống ở đó khó khăn. Tương tự như vậy, các nhà bảo vệ quyền con người cho rằng để biết một quốc gia có dân chủ, bình đẳng và bảo vệ nhân quyền hay không chỉ cần xem họ đối xử với người thiểu số như thế nào. Nếu pháp luật và xã hội không có phân biệt đối xử, mọi người đều bình đẳng thì quốc gia đó thực sự tôn trọng quyền con người. Ngược lại, nếu vẫn tồn tại định kiến và kỳ thị với người thiểu số, thì quốc gia đó đang còn nhiều việc phải làm.

 

Ảnh: đại diện nhóm khuyết tật góp ý sửa đổi hiến pháp

Bất cứ một xã hội nào đều được xây dựng và phát triển dựa trên tinh thần và nội dung của Hiến pháp. Chính vì vậy, chỉ cần phân tích Hiến pháp là phần nào hiểu được quốc gia đó đang đối xử với người thiểu số như thế nào.

Việt Nam đang xin ý kiến nhân dân về bản thảo Hiến pháp năm 1992 sửa đổi và đây là một cơ hội hoàn thiện nền tảng cho một xã hội công bằng. Những người thiểu số và yếu thế như người dân tộc thiểu số, người có HIV, người di cư, phụ nữ, thanh niên, người khuyết tật, người đồng tính, song tính và chuyển giới có cơ hội để nói lên tiếng nói của mình. Tuy nhiên, việc lấy được ý kiến của họ không phải dễ dàng vì những lý do chủ quan và khách quan.

Chính quyền địa phương hay các tổ chức đoàn thể như Hội phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thành niên có các thành viên thuộc nhóm thiểu số. Tuy nhiên, vì là thiểu số nên đôi khi họ bị lãng quên hoặc coi là không chính yếu cần xin ý kiến. Do những rào cản về vận động hay ngôn ngữ mà người khuyết tật hay phụ nữ dân tộc thiểu số thường bị bỏ qua trong các cuộc tham vấn. Những người đang phải đối mặt với định kiến kỳ thị trong xã hội như người có H hay người đồng tính, song tính và chuyển giới không phải dễ dàng xuất hiện để tham gia và đưa ra nhu cầu chiến lược của mình. Tương tự như vậy, người nhập cư do không có hộ khẩu nên nghiễm nhiên gạt ra khỏi các cuộc họp của “nhân dân” để góp ý cho Hiến pháp. Vì thế, việc thông qua chính quyền địa phương hay các đoàn thể để lấy ý kiến nhân dân thường vắng mặt nhóm đối tượng nhân dân yếu thế này.

Nhận biết được điều này nên Hiến pháp các nước thường đảm bảo quyền tự do lập hội của công dân. Từng cá nhân riêng lẻ thuộc cộng đồng yếu thế rất khó đưa ra ý kiến của mình nhưng một tập thể có tổ chức, có mục đích bảo vệ quyền lợi của thành viên thì chắc chắn sẽ làm sứ mệnh đại diện tốt hơn. Khi đó, những người đại diện cho các nhóm người yếu thế, các nhóm lợi ích sẽ có nguồn lực và năng lực để tìm hiểu thông tin, phân tích vấn đề và đưa ra kiến nghị từ góc nhìn của mình. Đây chính là quá trình cần thiết để các nhà lập pháp và xã hội hiểu vấn đề thấu đáo hơn, để cân bằng lợi ích phát triển tốt hơn.

Gần đây, các tổ chức phi chính phủ đứng ra tổ chức lấy ký kiến trực tiếp các  nhóm đối tượng thiểu số thiệt thòi là cần thiết và giàu tính nhân văn. Đây là những bước đi đầu tiên để tiếng nói của những người thiểu số thiệt thòi được lắng nghe. Việc này thể hiện vai trò không thể thiếu của các tổ chức xã hội dân sự. Như vậy, Hiến pháp sửa đổi cần đảm bảo quyền tự do lập hội để trong tương lai ngoài các tổ chức phi chính phủ sẽ có Hội của những người yếu thế thiệt thòi như Hội của người có H, Hội của người Đồng tính, song tính và chuyển giới, Hội của người dân tộc thiểu số, Hội của người di cư.... Họ sẽ tham gia như một phần của xã hội dân sự bảo vệ quyền của người thiểu số, người yếu thế. Đây chính là điều kiện để phát triển một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Theo ước tính của tổ chức ILO có 21 triệu nam giới, phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của lao động cưỡng bức trên toàn thế giới.

Trong 1000 lao động thì có 3 người bị cưỡng bức lao động tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương- một trong những khu vực diễn ra sự lao đông cưỡng bức lớn nhất toàn cầu.

lao động, trẻ em, phụ nữ

Theo bà Maria Pâvilainen, chuyên gia, giảng viên về lao đông cưỡng bức tổ chức ILO: "Sự phát triển về kinh tế, hội nhập đã nảy sinh các vấn đề mới nhất về quan hệ lao động, nhất là về cưỡng bức lao động.

Có 11 chỉ số về vấn đề này được đưa ra như: lạm dụng tình trạng khó khăn, lừa gạt, hạn chế đi lại, xâm phạm thân thể và tình dục, giữ tiền lương, làm thêm giờ quá quy định... để giúp mọi người hiểu về vấn đề cưỡng bức lao động diễn ra như thế nào và tác động ra sao tới những nạn nhân.

Tôi mong muốn các cơ quan chức năng sát sao hơn nữa trong việc thực thi các chế tài, hạn chế tình trang cưỡng bức lao động trong xã hội.

Với các cơ quan báo chí, tôi mong muốn các bạn có thể phát hiện và đưa ra ánh sáng nhiều vụ việc liên quan đến xâm hại và cưỡng bức lao động hơn nữa".

"Đối với những lao động ra nước ngoài làm việc thì cũng cần trang bị kiến thức về lao động cưỡng bức để khi gặp tình huống không may sẽ biết mình cần tìm những cơ quan nào để nhờ hỗ trợ", bà Maria nói.

Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kểlâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày. Theo DDA (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành), khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thường không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn toàn . Còn Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA - Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng). Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này.

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999). Còn theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế người khuyết tật, người khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác (DPI, 1982). Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống.

Theo thống kê năm 2011, Việt Nam có khoảng 6.1 triệu người khuyết tật, tương đương 7.8% dân số.

Người lao động là người làm công ăn lương, có thể là người:

  • Lao động phổ thông: Công nhân, thợ, nông dân làm thuê (tá điền), người giúp việc, Ô sin...
  • Lao động trí thức: Nhân viên (công chức, tư chức), cán bộ

Một người lao động đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử dụng lao động) và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng. Trong hầu hết các nền kinh tế hiện đại, thuật ngữ "nhân viên", "công nhân" đề cập đến một mối quan hệ được xác định cụ thể giữa một cá nhân và một công ty, mà khác với những khách hàng tiêu dùng.

Người lao động cũng thường kết hợp thành các Công đoàn hoặc nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của mình.

Tại nhiều quốc gia như Đức, kể từ khi cải cách pháp luật thông qua Đạo luật Hiến pháp trình trong năm 2001, theo pháp lý không còn phân biệt giữa nhân viên và công nhân, § 5, khoản 1 WCA cả hai được gọi chung là "người lao động" . Luật này tác động chỉ ra một số thỏa thuận thương lượng tập thể của Đức. Như vậy, trong những năm gần đây, sự tách biệt và phân biệt đối xừ giữa công nhân, viên chức, nhân viên hoặc cán bộ - thực hiện các hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp tương tự hoặc hoạt động tương tự - được bãi bỏ, như trong các thoả ước tập thể cho dịch vụ công cộng (TvöD) và trong các thoả ước tập thể về khuôn khổ của hợp đồng làm việc.

Các loại hình thức làm việc khác được sắp xếp như tôi tớ, đày tớ, nô lệ mà bây giờ không thường thấy ở các nước phát triển nhưng vẫn còn xảy ra ở những nơi khác.

Ngày 3/3, tại Phiên Cấp cao Khóa 28 Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, Trưởng đoàn Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Quốc Cường đã có phát biểu khẳng định Việt Nam ủng hộ đối thoại và hợp tác giữa các quốc gia, đề cao các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, thúc đẩy đồng thuận, hạn chế đối đầu, áp đặt và chính trị hóa tại Hội đồng Nhân quyền.

Đánh giá về Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 10 năm thành lập, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường cho rằng cơ quan này đã có những đóng góp nhất định trong việc thúc đẩy tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, giúp nâng cao nhận thức và xây dựng cách tiếp cận khách quan và toàn diện hơn về quyền con người.

Đánh giá tích cực cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR), Thứ trưởng cũng nhấn mạnh HĐNQ cần bảo đảm tính minh bạch, khách quan, không thiên vị, tăng cường đối thoại, hợp tác và quan tâm nhiều hơn đến ưu tiên của các nước đang phát triển và của các nhóm người dễ bị tổn thương. Với tư cách thành viên nhiệm kỳ 2014 - 2016, Việt Nam đã và tiếp tục phát huy vai trò chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong các công việc của HĐNQ.

Trưởng đoàn Việt Nam nhấn mạnh thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, những nỗ lực trong thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người, trong đó có các khuyến nghị UPR chu kỳ 2 đã được chấp thuận, các cam kết tự nguyện với tư cách thành viên HĐNQ, phê chuẩn Công ước Chống tra tấn và Công ước về Quyền của Người Khuyết tật.

Bên lề Phiên Cấp cao Khóa 28 HĐNQ, Trưởng đoàn Việt Nam đã tham dự và phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao về thúc đẩy phổ cập Công ước Chống tra tấn. Ngoài ra, Trưởng đoàn Việt Nam đã có các cuộc tiếp xúc với Bộ trưởng Ngoại giao Georgia, Thứ trưởng Ngoại giao Nhật Bản, Quốc vụ khanh Serbia, Thứ trưởng Ngoại giao Síp và Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ để trao đổi về các biện pháp tăng cường quan hệ song phương cũng như việc phối hợp tại HĐNQ và các diễn đàn đa phương khác.

Sau Phiên Cấp cao, HĐNQ sẽ tiếp tục làm việc đến ngày 27/3/2015 tại Trụ sở Liên hợp quốc tại Geneva, Thụy Sỹ./.

Nhân quyền (hay quyền con người; tiếng Anh: human rights) là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đưa ra một nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ. Các chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson đã nêu, mà chính các chính phủ đó được lập ra để bảo vệ các quyền tự do đó – các quyền mà mọi cá nhân hiển nhiên có do sự tồn tại của mình.

Một vấn đề thực tế ở nước ta hiện nay là tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại khá phổ biến. Nhưng lỗi có hoàn toàn thuộc về phái mạnh, hay chính phái nữ đã tạo cơ hội cho sự bất bình đẳng giới này?

 Người ta quen với việc một người đàn ông hết giờ đi làm về, cùng bạn bè  la cà trong quán bia đến tối mịt mới về. Trong những quán bia như thế, có rất ít  phụ nữ. Trong gia đình, người ta cũng thường dạy con trai thì phải mạnh mẽ; con gái thì phải biết nấu ăn, biết giặt giũ, biết dọn dẹp nhà cửa v.v… Có thể kể ra vô vàn những ứng xử bất bình đẳng giới trong xã hội. 

Hãy xem một quảng cáo một loại gia vị: Người vợ nhờ có gia vị mà nấu được món ăn ngon, người chồng đi làm về, com - lê cà vạt, nếm món ăn rồi khen vợ đảm, gia đình thật ấm cúng. 

Hay xem quảng cáo một loại bột giặt: Cũng lại người vợ, nhờ có bột giặt tốt mà nhàn hơn trong công việc giặt giũ, giúp cho quần áo của cả nhà sạch sẽ thơm  tho… Đến ngay  như việc cử cán bộ đi họp các cuộc họp về bình đẳng  giới hay lồng ghép giới, các cơ quan, đơn vị cũng thường cử một chị nào đó đi, khiến cho các cuộc họp này không còn là cuộc họp về giới (vốn là của cả hai giới nữa) mà đã thành cuộc họp của chị em phụ nữ (Tôi đã từng dự một số cuộc họp như thế, thấy mười chị thì may có một anh dự họp). 

Rõ ràng những ứng xử bất bình đẳng kiểu này hoàn toàn không phải do thiên chức hay sinh lý của người phụ nữ khác với nam giới, mà hoàn toàn là do định kiến của xã hội gây ra. 

Phải khẳng định rằng, từ khi có Đảng đến nay, sự nghiệp bình đẳng giới ở nước ta đã tiến được những bưới dài gấp vạn lần so với suốt cả ngàn năm trước đó dưới chế độ phong kiến. Ngày xưa, phụ nữ còn không được đi học. Ngày nay chúng ta có nhiều phụ nữ làm thầy, là giáo sư, dạy cho cả nam giới. 

Tuy vậy, so với các nước phát triển, chúng ta còn kém họ nhiều. Vì vậy, nhiều tiềm năng sáng tạo của phụ nữ Việt Nam không được phát huy, làm chậm quá trình phát triển của đất nước. 

Nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới, tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ trong rất nhiều công việc và hoàn cảnh khác nhau đã được rất nhiều các nhà khoa học và quản lý đề cập do tàn dư của xã hội phong kiến hàng ngàn năm còn sót lại ở nước ta; vì nam giới muốn duy trì sự bất bình đẳng trong nhiều công việc và hoàn cảnh; vì hệ thống luật pháp còn cần được hoàn thiện hơn nữa,… 

Vậy thì có hay không, nguyên nhân xuất phát từ chính các chị em phụ nữ, vốn rất hay lên án (vì bị chịu thiệt) sự bất bình đẳng, lại đang vô tình hay cố ý làm cho sự bất bình đẳng  ngày càng khó mà xóa bỏ đi được?

Nói vậy thì chắc chị em sẽ phản đối. Nhưng có một thực tế là, khi hỏi hầu hết chị em về tiêu chuẩn của người mà mình sẽ yêu và sẽ lấy làm chồng thì đều có một điểm chung trong câu trả lời: Người đó nói chung phải hơn mình về trí tuệ, khả năng kiếm tiền hay một số tố chất khác. Đa số đàn ông không buồn rầu vì vợ mình không thông minh, giỏi giang bằng mình, nhưng đa số phụ nữ lại buồn rầu vì chồng mình không giỏi giang thành đạt (về xã hội) bằng mình. 

Điều này dẫn đến quan niệm phổ biến trong xã hội là chồng thì phải giỏi giang hơn vợ. Tư tưởng này ở cả đàn ông và phụ nữ thì đều có, nhưng tác động của nó tới sự bất bình đẳng giới thì không như nhau. Việc người đàn ông có thể dễ dàng yêu người phụ nữ kém tài hơn mình nhiều không gây ra sự bất bình đẳng  giới, nhưng việc người phụ nữ rất khó khăn trong việc yêu và kết hôn với một người đàn ông kém cỏi hơn mình thì thực sự là một nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng giới, vì nó tạo ra một tâm lý xấu phổ biến cho xã hội. Người ta cho rằng, đã là vợ thì phải nghe theo chồng (vì chồng thường giỏi giang hơn). Điều này dẫn đến thói quen là cả những ông chồng chẳng giỏi giang gì hơn vợ cũng nghiễm nhiên có quyền bắt vợ phải nghe theo mình (như các ông chồng khác) một cách rất bất công.

Đã đến lúc cả xã hội, nhưng trước  hết chị em phải tự giải phóng mình khỏi quan niệm này. Tình yêu và hôn nhân phải lấy sự hòa hợp tâm hồn, tình cảm, quan niệm sống làm yếu tố cơ sở quan trọng bậc nhất. Trí tuệ, tài năng tất nhiên không nên quá chênh lệc, song không nên đặt vấn đề ai phải hơn ai. Đã yêu thương nhau mà kết hôn, thì tài năng của ai cũng phải là để xây dựng hạnh phúc chung cho gia đình mà thôi. Tất nhiên ai có được người chồng (hay vợ) có tài trí hơn mình thì cũng là người may mắn cả; chồng hay vợ có “cái đầu” hơn cũng là quý cho gia đình mình cả, rất không nên phân biệt.

Là đàn ông, anh em khó mà chinh phục nổi người phụ nữ thông minh, tài giỏi  hơn mình. Nhưng chị em hãy nhớ rằng người đem lại hạnh phúc hơn cho ta không phải luôn luôn là người  thông minh, giỏi giang hơn về một mặt nào đó. Hạnh phúc có được là nhờ  tổng thể các điều kiện chứ không dựa vào một vài yếu tố  nào. Đừng để định kiến sai lầm làm mất đi cơ hội có được hạnh phúc đích thực. 

Cuộc chiến chống bất bình đẳng giới (mà sự bất bình đẳng ấy đang gây thiệt thòi quá lớn cho phụ nữ) cần sự vào cuộc của toàn xã hội; và để có  bình đẳng  giới  thật sự thì cần rất nhiều thời  gian và điều kiện, trong đó có điều kiện  rất quan trọng là chị em  phụ nữ phải tự vượt qua định kiến của chính bản thân mình.

Ô nhiễm bom mìn ảnh hưởng nặng nề đến tính mạng, đời sống, tài sản của nhân dân, đến phát triển kinh tế, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và môi trường, sự phát triển bền vững, hạn chế diện tích đất sinh hoạt, canh tác, gây nhiều tổn thất cho con người và tài sản của Nhà nước và nhân dân. Hàng năm Nhà nước phải chi hàng nghìn tỷ đồng cho rà phá bom mìn, cấp cứu, điều trị, hỗ trợ nạn nhân, tái hòa nhập cộng đồng, tái định cư.

Từ ngay sau chiến tranh đến nay, Chính phủ Việt Nam đã đặc biệt quan tâm đến việc khắc phục hậu quả bom mìn bao gồm cả 3 nội dung rà phá bom mìn, tái định cư phát triển kinh tế, tái hòa nhập cộng đồng cho các nhạn nhân và tuyên truyền giáo dục phòng tránh bom mìn. Các công việc này được các Bộ ngành, địa phương triển khai tích cực và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đến nay, các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng, các bộ, ban ngành có liên quan và các địa phương đã tổ chức dò tìm, thu gom xử lý hàng triệu bom mìn, vật nổ các loại, giải phóng hàng trăm nghìn ha đất góp phần giảm thiểu tai nạn bom mìn, tái tạo quỹ đất, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh – trật tự môi trường an toàn cho nhân dân. Công tác tuyên truyền, giáo dục phòng tránh bom mìn, vận động sự ủng hộ, hỗ trợ của quốc tế cũng được Nhà nước và các Bộ, ngành đẩy mạnh. Nhiều nước, tổ chức quốc tế đã quan tâm đến công tác khắc phục bom mìn sau chiến tranh ở Việt Nam.

Mục tiêu mà chúng ta hướng tới là Việt Nam trở thành quốc gia không còn tác động của bom mìn, vật nổ đối với sự phát triển kinh tế xã hội, tạo lập môi trường bảo đảm an toàn cho nhân dân sống tại các khu vực ô nhiễm bom mìn vào đời sống xã hội. Để đạt được điều đó cần sớm hoàn thành công tác điều tra khảo sát, đánh giá tác động và lập bản đồ, khoanh vùng khu vực ô nhiễm bom mìn trên toàn quốc. Tập trung giải quyết, khắc phục cơ bản hậu quả bom mìn sau chiến tranh tại những vùng bị ô nhiễm nặng nề. Đặc biệt, tập trung rà phá bom mìn, khắc phục cơ bản hậu quả bom mìn sau chiến tranh tại những tỉnh đã hoàn thành điều tra, khao sát, lập bản đồ ô nhiễm bom mìn và những vùng bị ô nhiễm nặng nề. Xây dựng bộ quy chuẩn  kỹ thuật quốc gia, thiết lập cơ sở quản lý dữ liệu liên quan và tổng hợp, thống kê hàng năm.

Ngăn ngừa và giảm đáng kể thương vong bằng cách nâng cao hiểu biết và nhận thức của nhân dân về nguy cơ tai nạn bom mìn thông qua các chương trình giáo dục phòng tránh bom mìn. Bảo đảm cho người dân tại các khu vực đó sinh sống và làm việc an toàn, tạo điều kiện hòa nhập hoàn toàn nạn nhân bom mìn vào xã hội thông qua chương trình hỗ trợ toàn diện cung cấp các dịch vụ y tế, xã hội và hướng nghiệp, tạo việc làm…

Để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, cần có những định hướng cụ thể sau:

Một là, cần có sự chỉ đạo chặt chẽ của Chính phủ, nhất là các Bộ chức năng, liên quan trực tiếp để gắn kết 3 công tác rà phá bom mìn, tuyên truyền giáo dục, hỗ trợ nạn nhân vào một hoạt động nhân đạo chung.

Hai là, tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước và các địa phương, tạo sự ủng hộ rộng rãi của các cấp, các ngành và nhân dân. Cần tăng cường sự phối hợp liên ngành, tham mưu cho Chính phủ tạo cơ chế điều phối, xây dựng năng lực quốc gia và thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài trợ quốc tế, bảo đảm đạt được các mục tiêu đề ra.

Ba là, cần có chiến lược xúc tiến vận động tài trợ trong và ngoài nước, tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế trong việc khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh ở Việt Nam và có cơ chế hợp tác quốc tế đầy đủ, toàn diện để huy động nguồn  lực cho công tác khắc phục bom mìn.

Với những định hướng trên cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần phải có kế hoạch và lộ trình khắc phục cơ bản hậu quả bom mìn sau chiến tranh, tạo điều kiện huy động mạnh hơn các nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ rà phá bom mìn, góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội, thực hiện các chủ trương và mục tiêu quốc gia do Chính phủ đề ra.

Thứ hai, cần có cơ chế điều phối cấp quốc gia và tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành chủ quản và các bộ ngành, địa phương liên quan trong việc tuyên truyền, giáo dục phòng tránh bom mìn cho nhân dân, cấp cứu điều trị, hỗ trợ nạn nhân bom mìn, dạy nghề, tái hòa nhập cộng đồng, nghiên cứu, phát triển các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về rà phá bom mìn…

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền trong nước, quốc tế để tạo sự ủng hộ, đóng góp vào việc khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh ở Việt Nam. Tiếp tục tăng cường hợp tác song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ để vận động, thu hút tài trợ không hoàn lại, tài trợ nhân đạo, hỗ trợ phương tiện, kinh phí cho công việc khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh. Hợp tác quốc tế để giải quyết hậu quả bom mìn sau chiến tranh sẽ góp phần tạo ra hình ảnh, sự thân thiện, tạo dấu ấn tốt đẹp của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong những chương trình quốc gia cụ thể, tạo ra tính nhân văn trong công việc khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam.